TRÊN VỈA HÈ
Con đường chính của Saigon của thập niên 50-60 tấp nập người xe. Những chiếc taxi với dáng dấp riêng biệt, thường là Renault 4, hai màu xanh và vàng, đưa rước khách xuống lên như mắc cửi. Phố phường đông đúc, hàng quán san sát, nhà hàng tiệm ăn, tiệm tạp hóa, rạp chiếu bóng, khiêu vũ trường, tiệm giải khát dầy đẩy. Từ đó cũng xuất hiện dần dần những từ phiên âm theo phong trào mới, tùy theo ngành nghề, như ‘ba’(bar) ‘gái bán ba’, ‘dancing’, ‘ca ve’ ( vũ nữ )…. Nếp dưới khung cảnh sang trọng, rộn rịp tưng bừng náo nhiệt nhất là về đêm ấy, một bức tranh khác không kém sôi động, lớp người sống trên vĩa hè, trong con đường hẻm hẹp không tên, giữa hai bức tường của hai dãy phố cao tầng. Cuộc sống thật xô bồ giữa lòng thành phố, hai thành phần xã hội đối chọi nhau.
Nhìn bề ngoài ta tưởng chỉ có lớp người kiếm sống, lương thiện. Thật ra cuộc đời luôn luôn có hai mặt tốt xấu, nghèo giàu. Từ ngàn xưa, ở mọi thời đại,bao cuộc cách mạng manh nha hy vọng lấp dần hố sâu giữa hai thế giới trái phải ấy. Rồi ngày nay, cuộc tiến bộ khoa học kỷ thuật, nếp sống văn minh tiện lợi thích nghi có khi chỉ đào sâu thêm lòng ích kỷ, độc tài, độc tôn, kết quả lũy tiến nhanh chóng mặt, triệu phú tỷ phú hàng loạt, ngày xưa đếm chỉ có trên đầu ngón tay, tư bản đỏ đen vàng xám, danh sách mỗi năm cứ bổ sung dài ra. Còn thành phần cày cụi làm việc chỉ do công sức khả năng học vị của chính mình thì chỉ đủ có tiền để đạm bạc sống cầm hơi.
Oái oăm hiện tượng nầy xảy ra ở mọi nơi, nước giàu như nghèo, thành phần xã hội sang hèn, có hay ít học. Càng văn minh, cả lạc hậu, nhiều mưu chước táo tợn ác độc hơn gấp bội. Bao mánh khoé được điều nghiên sâu rộng, áp phe, thành phần chạy chọt, nịnh hót xu thời trá hình, chớp bắt cơ hội làm đảo lộn vàng thau lẫn lộn. Ai cũng là vua một cõi, ăn xin cũng có vua sinh sát thường vắt chanh bỏ vỏ, các trẻ mồ côi sống bên đống rác, móc túi, đánh giày cũng có đầu nậu, băng đảng trưởng. Sa đọa hơn là trẻ em bụi đời nghiền ngập thật đáng thương vì khó có cơ hội hy vọng tìm được con đường lương thiện. Những đứa trẻ bị đời nguyền rủa nầy thật đáng thương, tội đâu phải do chúng tạo ra đâu mà chính xã hội đã đầu độc chúng, đẩy đưa chúng vào con đường không lối ra. Vì sống còn, miệng đói ăn chân phải lết phải bò.
Thời bấy giờ, bao gia đình chạy loạn từ làng lánh nạn ra tỉnh, đô thị, con đông lúc nhúc, sanh năm một, sống vất vưởng chạy gạo tiền độ nhật, dưới những túp lều xiêu vẹo,quây quần bên những khu đổ rác được giải tỏa ra ngoại ô để chỉnh trang thành phố. Hoặc nằm trong nhà ga dưới góc hiên, bên bờ tường che khuất bằng hàng cây me, cây cổ thụ, dọc theo hàng rào kiên cố của biệt thự lâu đài như của dòng họ chú Hoả, hay trong hẻm hẹp thật ra là trên mương cống nước thải ra giữa hai dảy lầu như ếch ngồi dưới đáy giếng trong lòng thành phố thủ đô, trên con đại lộ chính Saigon.
Chiếc lều là do kết hợp vài tấm tôn cũ kỷ sét rỉ được đặt nghiêng nghiêng dọc theo bức tường sau dảy phố không có cửa hậu thông ra, che một chiếc chỏng có bốn chân bằng gỗ tạp nhạp đóng phủ trên bằng vài tấm phên ván mỏng te hay chiếc ghế bố « sập ký nình » vá chầm bằng nhiều lớp mảnh bao bố tời đủ nhản hiệu như bản đồ thế giới. Một tấm ni lông hay một tấm poncho cũ xì to dùng vừa làm mái lợp che mưa, vừa làm máng xối để hứng nước mưa vào thùng hay chậu móp méo miệng đáy mòn. Mỗi lần mưa to gió lớn, cả gia đình ngồi co ro sát cạnh nhau đở ướt.
Tuy nhiên dầu phải sống chật vật bữa đói bữa no, trên vỉa hè, họ luôn cố gắng không làm những nghề bất lương như trộm cắp giựt đồ vì họ biết rằng đây là nơi nương tựa dừng chân có thể là ngắn hạn hay vĩnh viễn. Họ làm mọi nghề lặt vặt như chạy xích lô mướn từng ngày, khuân vác hàng ở chợ, chạy xe ba bánh, ‘bán chạy’ từng mớ quần áo cũ ở chợ trời, trên lề đường,…Con cái cũng cố cho đi học được ngày nào hay nấy và trong thời gian nửa triệu quân nhân đồng minh sang giúp cho Việt nam Cộng hòa, nhiều nghề mới cho các trẻ nầy như gọi taxi, xe xích lô máy cho những lính ngoại quốc xa nhà sau hành quân nghỉ phép, quanh các vũ trường hay các tiệm giải khát các ‘ba’.
Trái ngược lại, đáng thương hơn là những trẻ mồ côi chạy loạn từ các làng xa về thành phố bơ vơ rơi vào những tên đầu nậu, băng đảng giang hồ, vua móc túi, đánh giày, ăn xin…Kỷ luật rất tàn bạo, một khi vào rồi là quyền sinh sát do đảng trưởng, thủ lĩnh. Mỗi ngày phải kiếm một số tiền bắt buộc, nếu không sẽ bị trừng phạt dã man. Băng đảng bất hợp pháp nầy vẫn có những quy lệ kỷ luật riêng có thể nói là vào rồi thì khó ra, tính trung thành là điều kiện tiên quyết. Mỗi thành viên dù còn nhỏ cũng không thể được miễn, thay vì được xâm mình như các đàn ‘anh chị’ giang hồ tứ chiến, du côn có tiếng, thành tích được kể truyền miệng trong giới xã hội đen ít tốt nhiều xấu đánh lộn đâm chém, đụng độ trận gây thương vong giành địa bàn hoạt động, cướp giật, cờ bạc ăn chơi, làm lễ tuyên thệ « nhập môn » bằng cách nướng khuôn sắt cháy đỏ đặt vào lưng để đóng dấu không xóa được.
Có nhìn một đứa trẻ đang hành nghề móc túi chẳng hạn, hoặc khi nào mình bị ‘chôm’ một lần, chúng ta phải công nhận rằng dù còn nhỏ tay nghề nhanh tay lẹ mắt của trẻ cũng đáng nể nang. Chắc chắn là phải có qua một thời bị đòn đánh đập để vào nghề, có khi bị tù ra khám, các em phải kinh qua bao khổ luyện bằng nước mắt và máu. Có lỡ bị bắt, dù bị tra khảo cách mấy, vẫn không bao giờ khai báo kẻ chủ mưu hay cùng băng. Các trẻ bất hạnh nầy chỉ biết vâng lời, thi hành triệt để công việc được phân, thường không bao giờ biết mặt người ‘chóp bu’, rất rõ ‘luật giang hồ’, một khi vi phạm rồi thì tất khó sống được. Không được học, chưa bao giờ nhận được một cử chỉ, lời nói thân thiện an ủi, con tim của các em càng ngày càng chai lì hằn sâu những bất công xã hội. Càng lớn lên, thật khó có cơ may để trở về con đường lương thiện.
Còn « đạo binh » đánh giày, mỗi em với chiếc hộp gỗ đánh giày lảng vảng trước các tiệm ăn, tiệm kem, trạm xe buýt, bến xe đò đi lục tỉnh, ở các góc ngã ba đường, lẽo đẽo bám mời mọc khách nào có mang « giày Tây ». Địa bàn hoạt động cũng được phân ranh, tên nào « xé lẻ » đi nhầm vào vùng khác thường bị hành hung không tiếc thương. Mỗi ngày các em phải nộp hết tiền mình cật lực làm được, giấu diếm khi phát hiện ra thi bị kỷ luật nặng nề. Trẻ đánh giày thường không móc túi sợ ‘bể nồi cơm’ tức là mất việc luôn thêm bị hành hình nếu bị phát hiện. Do đó còn hy vọng hoàn cảnh đưa đẩy vào con đường thay đổi cuộc sống khá hơn.
Riêng thành phần mua lông vịt, giày dép cũ, đồ bằng nhựa, chai bể thông thường từ gia đình nghèo bị chiến tranh nhà cửa bị đốt phá không còn chỗ dựa nên trôi giạt tìm sống đến ven các đô thị tỉnh thành. Để tìm sống độ nhật, mỗi gia đình luôn tổ chức theo vốn liếng ít ỏi của mình, phân công con cái vừa theo mẹ mua đồ cũ một buổi vừa đi học. May ra kinh tế gia đình khá hơn và con cái lớn theo thời gian và kinh nghiệm đời, hy vọng các trẻ nầy có cơ hội tìm đuợc công việc lương thiện xa đường hư hỏng như buôn bán hàng rong, bàn báo dạo, bồi bàn,…
Cho đến thời các binh sĩ đồng minh ồ ạt sang miền Nam, bao nghề mới mở ra theo nhịp sống vội vã hưởng thụ của tầng lớp giàu mới và nhu cầu của những người lính giàu có có nếp sống hoàn toàn khác hẳn truyền thống dân ta. Người Việt thường bảo thủ nhưng lại chuộng cái hay cái mới, ưa bắt chước văn minh nước ngoài. Trong thời kỳ thái bình, việc chọn lọc dở hay đã là khó rồi huống hồ thời kỳ nội chiến, việc mất còn không còn thuộc một ai. Do đó ai cũng phải bươn chải cày cục chẳng những để sống mà hưởng thụ hết mình, lắm lúc làm giàu càng tốt bất chấp phương tiện, mánh lới, chiêu bài nào. Bộ mặt xã hội thay da đổi mặt thật nhanh thật nhanh.
Một trong những nguồn lợi bất ngờ thời bấy giờ là rác. Bao gia đình sống vất vưởng nhờ những đống rác ngùn ngụt xông mùi để tìm cái gì có thể bán lại được cho các chủ vựa thường là người Hoa. Nhưng ‘rác Mỹ’ lại khác, không phải là món kiếm ăn cửa giới nghèo nàn đâu. Đó là những đồ gia dụng quá kỳ hạn sử dụng, những đồ ăn hộp chẳng hạn, dụng cụ điện cũ hư được nửa triệu quân đội đồng minh tiêu dùng. Rác nầy thuộc cao cấp phải được đấu thầu để rồi trở thành một nguồn lợi to tác thu nhập giúp thành phần áp phe, giỏi manh mún, đầu nậu, lái mối manh nha tạo một tầng lớp xã hội, ‘dân giàu mới’ thời bấy giờ.
Xã hội thay đổi trong thời kỳ chiến tranh tất có nhiều hậu quả khó lường, thật giả tốt xấu không ai biết chắc được. Người mang mặt nạ mới, kẻ khác đội lớp giả mạo, giả danh giả dạng. Ngay cả nghề ăn xin cũng lắm lúc trá hình. Giả bộ gẩy tay treo tay lên, hàng ngày túc trực trước quán ăn nhà hàng đến từng bàn xin khách tiền hoặc đồ ăn dư để rồi nuôi heo và tối tối đi xem hái cải lương hát bộ.
Gia đình anh tư Ròm chạy xích lô đang tá túc trong con hẻm trên mương ấy gồm thê tử 7 người. Không ai biết anh Tư từ đâu đến nhưng những dảy nhà chung quanh lâu ngày thấy anh hiền hậu nên cũng tin cậy nên đi đâu hoặc rước con cái đều nhờ anh. Anh tên Mạnh nhưng vì ốm tong ốm teo nên để phân biệt với các đồng nghiệp khác, hành khách hay mối quen gọi như vậy cho dễ nhớ. Vợ anh tên Tý nhưng theo quen miệng gọi là chị Tư, người mảnh khảnh dễ nhìn sanh con năm một. Do đó, đứa lớn giữ đứa nhỏ, đứa nào bế nổi thì bồng nách, cõng được thì cõng, mệt quá hoặc mê chơi ham ăn thì cứ để em bò lê bò càng, bò la bò lết trên lề đường. Tắm rửa thường qua loa và cũng như các trẻ khác thích tắm mưa vì sau đó các em thấy mình trở như khác lạ, sạch sẽ, khoẻ khoắn, mặt mày xinh đẹp hẳn lên.
Hàng xóm của gia đình anh Tư là gia đình em gái của anh, cô Lựu mới 20 tuổi mà cũng đã 3 con lúc nhúc rồi. Hai chị chồng em dâu thay phiên nhau lo các cháu nhỏ và thêm buôn bán lẻ tẻ, buôn bắt cái nầy sang bắt cái kia, « bán chạy » ở lề đường gần chợ trời hoặc ở các công viên nghỉa là vừa bán vừa đề phòng, mắt láo liêng, xem có ‘phú lít’ cảnh sát đến là dông cho nhanh. Phong chồng của Lựu có tật chân làm nghề sửa xe đạp ở trên lề đường gần nhà, cũng bảo đảm phần nào gia đình đông con. Kế đấy là ông Bảy, trên 60 tuổi, ở một mình một thân, làm việc lặt vặt ai cần mướn. Nhà cửa ông bị đốt rụi sau cuộc bố ráp của lính Pháp ở miệt vườn Hậu giang, bà Bảy sau đó bệnh nặng qua đời, tứ cố vô thân, ông trôi giạt lên Saigon. Mỗi gia đình một hoàn cảnh đáng thương. Do đó họ cố sống nương tựa lẫn nhau vẫn cố giữ cái nề nếp thành thật tương trợ nông thôn.
Các đứa nhỏ lớn dần trong cái hỗn độn vừa phóng khoáng mới lạ gần như buông thả, kích thích vừa gò bó kềm hãm bởi cuộc sống cực nhọc của cha mẹ. Nhưng còn nhỏ chúng chưa suy nghĩ nhiều về vấn đề này dù chúng nó cũng đã thấy tận mắt y phục đắc tiền của các cô cậu nhà giàu lên xe xuống ngựa với bao đồ chơi như búp bê, xe đạp nhỏ ba bánh mà chúng nó mê mẫn thèm thuồng. Các em cũng biết tủi thẹn không bằng với bạn bè trong lớp, may là giới nào thủ phận giới đó, các trẻ nhỏ chưa ý thức lòng nhân đạo sớm đâu, nhưng không khinh khi chê bai bài xích nhau là tốt lắm rồi.
Nhan con gái lớn của anh chị Mạnh và Thành con trai cả của anh chị Phong được 14 và 12 tuổi năm 1975. Ngày 30- 04, cũng như các trẻ nhà nghèo khác, các em cũng không biết làm gì vì trường đóng cửa. Trước đó các em cũng đã nhận thấy không khí hối hả đi ra về bất thường của nhiều nhà gần đấy. Anh Mạnh được nhiều người dặn trước hẹn ngày giờ nào chở đi, các chị thì được dúi tiền nhờ xem nhà dùm vài ngày,…
Nhan và Thành cũng tò mò dẫn các em nhỏ theo đoàn người đổ xô ra đường thường về phía phi trường, bến cảng và nhất là hướng về các tòa đại sứ. Lạ là người ta chen chúc, dẫm chân lên nhau, thúc đẩy giành giật cho bằng được lên tàu lớn nhỏ. Về nhà, Nhan kể với mẹ là đã thấy nhiều người tranh nhau xuống tàu đi đâu không biết, nó còn thấy có khi cố đẩy con họ theo đoàn người xa lạ nữa.
- Con dám đi không ?Con với Thành dám dẫn hai em đi theo không ? Vượt biên đó. Ba má không có tiền để đi được, má sẽ đem các con ra đó rồi tìm mọi cách len trộn vào đoàn người di tản, hy vọng sống tốt hơn. Đừng lo gì cho ba mẹ ở nhà, cố gắng giữ gìn thân các con là quan trọng rồi.
- Con sẽ đem theo Nhân, Nhạn hai em trai kế con tụi nó lanh lợi lắm hy vọng luồn lỏi theo vào, còn hai em nhỏ ở lại với ba mẹ. Thành chắc chỉ dẫn được thằng Tèo theo. Má chuẩn bị cho tụi con đi liền đi, không dễ gì tìm được chuyến đi đâu, khó lắm.
Thế vậy mà năm đứa nhỏ nhà nghèo tháo vát nầy may mắn đi chui trót lọt trong những ngày đầu tháng 05. Bặt tin bao nhiêu năm, hai gia đình nầy bớt người rồi mà cũng không khá hơn chút nào trong thời kỳ đổi đời nầy. Biết là các con đã đi mà cũng không dám tiết lộ cho ai biết, khổ hơn là không biết còn sống hay chết, hỏi ai bây giờ, không dám tin ai nên không tiện hỏi thăm nhau.
Hơn thế nữa, họ lại thuộc thành phần nghèo ‘rớt mồng tơi’,‘người vô sản’ theo thời bây giờ, nên người quen biết khá giả cũng ‘ngán’ họ lắm, biết đâu một ngày nào đó họ ‘ tố khổ ‘ là tiểu tư sản hay nặng hơn là tư bản mại sản thì bị bắt đi ‘học tập’ mút mùa. Cơ trời không đoán nổi đành rồi mà còn mưu người sao cũng thâm hiểm và lật lọng như trở bàn tay, nguy tai !
Tuy nhiên gia đình anh Mạnh vẫn giữ gốc nông dân. Họ chỉ tin điều gì họ thấy, họ sống qua. Kinh nghiệm trong những ngày chiến tranh ở vùng đồng ruộng làm anh nhận anh rằng cuộc sống ở thủ đô hay các tỉnh thành lớn, tinh thần người dân phóng khoáng, tự do hơn tuy có thiên về ích kỷ cá nhân vì phần đông từ mọi miền vùng ‘ tứ xứ ’ đến, không ai biết ai, rõ lai lịch cội nguồn ai nên ít có thành kiến bảo thủ về dòng tộc, thành phần xã hội, lý lịch.
Còn đối với vùng xa thành phố, làng xã, tập tục « lệ vua không bằng lệ làng », « đời cha ăn mặn đời con khát nước » vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu dù hình thức áp dụng, thể chế có khác đi mà một trong những khía cạnh khắt khe đó là khó khoan dung với kẻ phạm tội, phản bội, ác đồ. Thành kiến và phong tục tập quán như hằn sâu vào tầng lớp người chân chất đó vừa phóng khoáng vừa bảo thủ dễ tin. Đối với họ, cái gì Trời cho không phải là trò chơi mà là một đặc ân, thân thể con người chẳng hạn, không được hành hạ phá hủy mà phải tôn trọng, gìn giữ phát huy, từ đó mới có lòng nhân. Thế mà nông thôn vẫn là địa bàn mầm mống hoạt động mọi thời và nông dân luôn chịu thiệt thòi nhiều nhất.
Do đó anh Mạnh không thể như những kẻ chụp giật thời cơ, đội nón mang dép mới là đổi đời, vì bấy giờ « y phục cũng làm thầy tu » được. Họ cũng không theo đám người đi ‘hôi của’, xông vào nhà bỏ chạy không ai cai giữ, vét gì lấy nấy, bán tháo bán dở đồ cắp được.Hoang mang trước tin đổi tiền, thương gia bị gắt gao kiểm kê, nhà cửa của giới chức cấp cao của chế độ miền Nam bị tịch thu, người dân cũng bán gia dụng không cần thiết để mua nhu yếu phẩm. Gia đình anh Mạnh đã chật vật càng túng bẩn hơn mà vẫn không « đói ăn vụn, túng làm càn » và cũng nhất định trốn tránh không đi vùng kinh tế mới. Ban ngày họ tìm được công việc gì để sống qua ngày là được. Saigon cũng như mọi tất cả các thành phố lớn khác, dù sao từ trước đến nầy vẫn là nơi dễ sống trà trộn trốn tránh hơn vì không ai biết ai nhiều và nhất là thủ đô của Việt nam Cộng hòa tập trung nhiều tai mắt báo chí ngoại giao thế giới. Hơn nữa, anh chị có gì để lo sợ cho bản thân đâu trong tình thế mới nầy. Anh chị quyết định bám trụ ở đây hy vọng tìm được tin tức các con biệt tăm từ ngày ra đi.
Thời kỳ nầy, biết bao thay đổi đảo lộn tưởng chừng làm sáng giá thêm thành phần lao động thật sự nghèo nàn. Vậy mà đây là còn thời điểm của những kiêu binh, “kẻ đục nước béo cò” thò mặt ra trở cờ chỉ điểm tố khổ. Gia đình người dân trước kia còn ăn cơm hạt bể bây giờ khoai trộn bo bo ngay trong nước có tiếng được gọi là « vựa lúa Á châu ».
Hai đứa con của anh Tư Út Một, Út Hai và bé Chót của anh Phong cũng được 12, 14 tuổi. Ông Bảy đã qua đời sau một cơn bệnh nặng được mang trong bệnh viện không đủ tiền thang thuốc. Hơn mười năm qua rồi, vẫn bặt tin xa. Tuy nhiên chị Mạnh cứ có dịp là đi cầu nguyện van vái ở chùa, trước Hang đá Đức Mẹ, Chùa Chà, đi xin xâm ở Lăng Ông Bà Chiểu,…cho các con còn sống. Hy vọng đó cũng theo thời gian xuống thang dần vì theo chị dọ hỏi, tin tức của những người vượt biên khác đã được biết khá nhiều rồi. Vẫn biết con mình không được đi theo diện chính thức hay bán chính thức mà nói theo kiểu nói thời bấy giờ con anh chị đi chui, đi « canh me », bao nguy hiểm có thể xảy ra không lường trước được. Nhiều người bị bắt tù, chết bị không được tàu ngoại vớt, do giông tố bảo táp, cướp bóc giết người, bị hải tặc hành hung, …chỉ nghe đến là chị đã rùng mình trách mình đã cho các con đi một mình còn nhỏ. Mà nghĩ lại ra đi thì tương lai của trẻ nếu thoát được chắc chắn hơn của cha mẹ chúng là tất nhiên.
- Dì Tư ơi dì Tư, hổm rày cháu tìm dì quá mà không thấy dì đâu cả, có rảnh dì đến nhà con ngay, có tin cho dì mà đừng nói cho ai biết trước hết nga, Hồng bạn gái của Nhan vui mừng gọi rồi rù rì với chị.
- Chuyện gì vậy hả Hồng ? Bây giờ dì đi theo Hồng được không ? Hồng bây giờ có bận làm gì không ?
- Dạ không, vậy dì cháu mình đi nha.
Trên đường đi, Hồng cho chị Tư biết là bây giờ ở nhà phụ lo tiệm cơm của ba má qua đời để lại, tiếp tế thăm nuôi anh cả đã bị đi học tập mà con cái nhỏ còn đang đi học. Chị tư nôn nao muốn hỏi Hồng tin buồn hay vui nhưng nhìn vẻ mặt bình thường tự nhiên của Hồng chị đoán chắc Hồng muốn dành cho mình sự ngạc nhiên hay tránh cho chị nỗi bực mình nào. Hồng tìm người làm à ? Trước kia ba má Hồng còn sinh tiền, chị cũng thường hay đến phụ trong những ngày nhiều khách, gia đình nầy cũng hay giúp đỡ gia đình anh chị khi túng quẫn ngặt nghèo nhất là Hồng là một bạn gái rất tốt luôn luôn sát cánh bảo vệ Nhan. Chị cố gắng kềm không thở dài nhưng tim sao mà hồi họp lạ, con đường chẳng cách xa bao nhiêu mà sao lâu tới quá.
- Dì nhớ phố nhà cháu không, mình đi ngõ hông lên lầu luôn nghe dì, nói chuyện dễ hơn.
Chị gật đầu theo chân Hồng như cái máy, tin vào Hồng chỉ mang điều may mắn thôi.
Vào nhà, miệng vừa mời chị Tư ngồi Hồng vội vã vào trong và đem ra một phong thư đưa chị xem. Nhìn sơ qua tên trên bao thư và viết không dấu của người gửi, chị ngẩn ngơ đưa mắt nhìn Hồng vừa đưa trả lại bức thư không nhầm nhò gì với mình.
- Thư gửi cho em nhưng trong đó có thư cho dì nữa. Dì lấy thư ra đi và đọc cả hai. Cháu đi lấy gì dì cháu mình uống một chút, khát quá.
Không ngần ngại gì nữa, run run chị vội bóc thư, càng đọc mắt chị mở to hơn, hơi thở dồn dập hổn hển và cuối thư chị ôm hai lá thư vào lòng khóc nức nở vừa gật gật xá xá bốn bề vừa lẩm bẩm « Cám ơn Trời Phật Chúa Mẹ, Ông Bà cha mẹ, con Nhan còn sống ». Vậy mà vừa nghe tiếng lẹt xẹt đôi dép đến gần, chị hoàn hồn hoảng hốt ngó quanh quẩn tứ phía tưởng như tiếng « dép râu » của công an khu vực xuất hiện bất thần, vội vã nhét bức thư vào ngực vuốt tóc vuốt mặt làm tỉnh. Khi thấy Hồng xuất hiện với hai ly nước mát, chị bật cười chảy nước mắt nói :
- Cô làm tôi hết hồn, sao bây giờ cái gì cũng làm cho tôi sợ được hết. Thời nầy hạng thứ dân như tôi mà cũng sống không yên ngán bị chụp mũ tố ẫu thì bị tù mục gông rục xương. Nghèo như tôi có gì mà mất đâu, chén sành mẻ đâu ngại cụng với chén kiểu ly pha lê, nhưng vì chờ tin mấy đứa nhỏ sống chết thế nào nên đành giả dại qua ải thôi. Cám ơn cô Hồng quá, à mà nhận được thư nước ngoài như vậy coi chừng có gi liên lụy với gia đình cô không ? Có ảnh hưởng không tốt về việc đi học tập cậu ba đại úy không ? Cô gọi tụi tôi là anh chị và xưng em cho thân tình hơn và đúng theo kiểu gọi mới hiện đại bây giờ.
- Vậy thì chúc mừng anh chị nhưng em nghĩ xin chị không nên tung tin sớm quá không lợi đâu. Không phải em lo gì về phần gia đình hay cá nhân em mà chính cho anh chị thôi. Điều quan trọng nhất đã biết rồi, từ trước đến giờ đã dấu nhẹm được thì cố dấu cho đến trót. Em sẽ trả lời cho Nhan để trấn an Nhan và cho biết địa chỉ nhà của anh chị để Nhan trực tiếp liên lạc. Hơn thế nữa, anh chị có thể viết thư cho Nhan gửi chung hoặc riêng tùy ý, em gửi cho.
- Hồng biết mà, chị từ trước đến nay có biết viết thư gì đâu, ông xã mình làm nghề « dân biểu » ( tiếng lóng mới cho nghề chạy xích lô ) lâu quá, tay cứng rồi viết chữ như con còng chính tả trật lất hết ráo trọi. Hồi nãy chỉ thấy qua loa cái địa chỉ viết bằng tiếng u tiếng Tây gì đó chị đã hoa mắt rồi, đớ lưỡi đánh vần ù ù cạc cạc. Thôi xin cho can đi, chắc chị nhờ em giúp chị viết dùm, chỉ cho chị ký tên ở cuối thư.
- Tùy chị thôi. Lần đầu tiên viết thư về nước, Nhan không chắc thư có đến hay không nên như chị thấy, Nhan cẩn thận viết rất ngắn, đúng thôi, điều cần thiết là cho biết là cả năm đều khoẻ. Từ nay, hai gia đình thở phào được rồi, hy vọng ngày gặp gỡ không xa đâu.
Vài tháng sau, thùng đồ gửi về khi nhỏ khi to gồm có quần áo, thuốc men, đồ ăn,…Nhờ bán lại quà nhận được, gia đình dành dụm để có một số vốn hầu sửa lại chiếc lều rộng rãi thoáng mát hơn và cho các con có thể tiếp tục đi học, tìm cách bán hàng rong trước rồi tùy thời, hy vọng gặp lại con.
Sang Mỹ, ba chị em Nhan may mắn đã được một gia đình không con đỡ đầu nuôi cho đi học. Ra trường đi làm ba anh em ra riêng sống với nhau và luôn liên lạc với anh em với Thành cũng được một gia đình Việt giúp đỡ lúc đầu. Nhan sắp lập gia đình với một thanh niên Mỹ gốc Việt nên nhất định làm mọi thủ tục để bảo lãnh cho cha mẹ và hai em. Anh chị lúc đầu từ chối nhưng sau đó Nhan thuyết phục là nếu không đi thì các em còn lại cũng không đi được nên cuối cùng anh chị đồng ý vì con.
Trong thời gian chờ đợi giấy tờ, anh chị Tư luôn tìm cách giúp đỡ trong khả năng của mình, đem về săn sóc một vài đứa trẻ gái hoặc nhỏ mồ côi bơ vơ đói khát nằm ngủ bên bờ tường cao của nhà ga góc hẻm từng em một, sau một thời gian tìm cách đem gởi các hội từ thiện hay tìm công việc nào để sống qua ngày. Có tiền khá hơn chị sang một chỗ ở bìa chợ để gánh bán cơm tấm buổi sáng, các em nhỏ phụ giúp. Sau đó hai chị em mở được một quán ăn nhỏ cho khách bình dân. Đời sống tuy cơ cực nhưng tạm ổn hơn.
Ngày gia đình chính thức ra phi trường đi Mỹ, anh chị Tư vốn đã gầy mà còn mất thêm vài kí lô. Nhớ lại thời gian làm thủ tục nộp đơn đến ngày ra đi, anh chị không thể nào tưởng tượng được bao giai đoạn nhức đầu tốn tiền bao công sức đã trải qua. Thế mới ngộ ra rằng nghèo có khổ nhưng cũng có niềm vui sướng riêng, càng có của thì bậc thang phiền toái lo toan càng dài tỷ lệ thuận theo cái gì mình có. Vậy mà túi tham của con người vẫn còn không đáy.
Sống trên vỉa hè bao nhiêu năm chứng kiến bao cuộc đổi thay đất nước ngay trong lòng thủ đô Saigon, Hòn ngọc Viễn Đông, nay đã đổi tên, dù phải sống kiếm ăn từng ngày có khi bửa đói bửa no, anh chị Tư vẫn không bao giờ nghĩ rằng ngày nầy có thể xảy ra, rời xa Tổ quốc. Thế mà tại sao cuộc đổi đời vẫn không cản ngăn được bao chuyến ra đi bằng mọi phương cách sống chết ? Trước kia chiến tranh đã chia đôi đất nước, cuộc di cư còn chỉ xảy ra trong đất nước thôi, bây giờ, Bắc Nam một dãy, thế mà thành phần vô sản như gia đình anh chị cũng đành quyết định bay đi.
Phi cơ cất cánh lên cao dần lượn một vòng trên không phận Saigon từ giã, nhìn qua cửa kính nhỏ, thành phố thu hình lần nhỏ lại thành một điểm rồi mất dạng ngoài tầm nhìn trong phút chốc để rồi ngự trị khắc ghi mãi mãi trong tận cùng tâm hồn .
Xin chào quê hương và hẹn một ngày về !
Trần Thành Mỹ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét