*
HÀ THỊ NGUYỆT MINH
Nhận được bản thảo tập thơ và bút kí “Vết hằn kỉ niệm” của Thy Lan Thảo tôi rất xúc động và xin có lời cảm ơn tác giả. So với những tập thơ trước tác phẩm này có đa dạng hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung. Bằng nhiều thể loại thơ, văn, và trí nhớ tuyệt vời Thy Lan Thảo đã đánh thức cả miền kí ức xa xăm của những người Việt xa xứ. . . .
Đọc “Vết hằn kỉ niệm” tôi chợt nhớ đến những câu thơ của Đan-Tê:
“Có khổ đau nào bằng,
Trong đắng cay nhớ về hạnh phúc. . . ”
Đối với những người trong nước thì người Việt sống ở nước ngoài được ưu đãi quá nhiều, được hưởng tự do thật sự, vật chất quá đầy đủ làm gì mà đau khổ, mà đắng cay, mà nhớ về hạnh phúc. Nào ai hiểu được những điều có trong hiện tại lại gợi lên bao nhiêu phiền muộn, xót xa liên tưởng đến những điều đã mất, những gì là hạnh phúc trong những điều đã mất: “Có những cái rất tầm thường nhưng khi không tìm thấy mình mới thấy tiếc, thấy nhớ…”
(Cá kèo)
Bút pháp hồn nhiên giản dị của Thy Lan Thảo lần này lại tự nhiên trôi theo dòng hồi tưởng đặc sắc giữa hiện tại và quá khứ; giữa cuộc sống trên đất tạm dung và những ngày tháng đã xa rồi trên quê hương Việt Nam:
Ở đây đất lạ người dưng
Đường thênh thang rộng-ngập ngừng bước chân
Tình quê nỗi nhớ bâng khuâng
Tan ca chiều xuống xác thân rã rời
(Nỗi nhớ mang mang)
Một xác thân rã rời cùng với nỗi nhớ mang mang, trên con đường đi về hằng ngày, một loại cây bên vệ đường nơi đất khách cũng đã gợi lên một nỗi nhớ quê hương da diết, nhớ bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ của mình:
“Mười mấy năm lưu lạc xứ người, mỗi lần ra đường nhìn thấy những cây có tàn lá giống cây me là lòng tôi như chùng xuống, kỷ niệm thời thơ ấu như hiện rõ trong tôi, những thức ăn chế biến từ lá, trái me… Tôi nhớ mẹ tôi, tôi nhớ anh chị tôi…Tôi nhớ Gò Công, quê hương của tôi” (Cây me)
Quê cũ cảnh nghèo vẫn âm thầm theo chân nhà thơ trên bước đời lưu lạc. Ngôi nhà ba căn kiểu chữ đinh quay mặt ra con kinh Salicetti vẫn hiện hữu song song bên Kỳ Đà Động ở Houston. Hình ảnh một gia đình đầm ấm hạnh phúc có ông bà mẫu mực, có cha mẹ chăm sóc thương yêu con cái, có anh chị em bảo bọc nhau vẫn tồn tại bên một gia đình nhỏ theo nếp sống ở một đất nước công nghiệp hiện đại:
“Chiều ở đây, đi làm về thui thủi một mình, vợ làm khác ca, con im ỉm trong phòng, cá thịt đông lạnh nhạt phèo, cố ăn mà sống (Cá kèo)
Và mâm cơm ngày nay thì lại nặng oằn nỗi nhớ:
Ăn cơm mà nhớ xa xôi
Bàn tay của mẹ, tiếng cười chị, anh
Khói chiều hôm quyện trời xanh
Chim về xao xác mong manh nắng tàn
(Nỗi nhớ mang mang)
Vợ và hai cô con gái, ba người phụ nữ trong hạnh phúc hiện tại lại gợi nhớ đến ba người phụ nữ trong gia đình ấm êm xưa kia, mẹ và hai người chị. Trên nhất vẫn là mẹ, thiêng liêng nhất vẫn là tình mẹ dành cho con. Đứa con trai út dễ thương, dễ dạy thường lẫn quẫn quanh nhà được cả gia đình thương yêu, được mẹ chăm chút cho từng miếng ăn giấc ngủ:
Cũng tại bàn tay của mẹ chăm sóc miếng ăn thức uống cho con từ ngày còn thơ trẻ, những món ăn nhà nghèo nhưng đầy đủ chất ngọt ngào của con cá cọng rau vùng quê hương tay của mẹ ủ ấm đời con…cho nên bây giờ sống đời xa xứ con mới thấy thèm hương vị quê nhà. Đời sống vật chất ở đây đủ đầy… nhưng mẹ ơi! Buổi chiều nào trời mưa, đi làm về, con đứng tựa cửa kiếng nhìn ra sân… mắt của con mờ dần… con nhìn thấy ngoài sân hàng cây so đủa, trổ trắng bông đang nghiêng mình theo gió trong cơn mưa chiều…! (Cá kèo)
Chợ Việt Nam cũng có bán đầy đủ lương thực, thực phẩm như ở trong nước. Những đặc sản ấy được đông lạnh hàng tháng trời làm sao còn giữ được dưỡng chất từ lòng đất quê hương:
“. . . dù tôi cũng kho nấu chiên xào giống hệt mẹ tôi nhưng, thịt cá cứng ngắt, ăn chẳng ngọt ngào…Những thức ăn làm từ cá kèo của mẹ bây giờ tôi chỉ còn được ăn trong mơ… để rồi tỉnh giấc…lau vội giòng nước mắt lén chảy ướt má.” (Cá kèo)
Cá kèo nướng thật đặc biệt, thật ngon và hấp dẫn: “mẹ dùng gấp tre cặp gấp nướng, cá gặp lửa than hồng liu riu chín tới từ từ, cho tới khi da nứt vàng nghín mẹ để cá vào dĩa, nước mắm chanh đường tỏi ớt, củ cải trắng mẹ xắt lát mỏng rồi xắt lại thành sợi, ngâm củ cải vào tô giấm có pha chút đường muối và chút nước lã, rau quế mẹ xắt nhuyển, cá kèo nướng được mẹ đặt nằm khít trên dĩa, mẹ chan ngập nước mắm ớt, trải trên mặt một lớp củ cải ngâm dấm, trên lớp củ cải là lớp rau quế,. . . .”
Cũng là món nướng nhưng không phải là cá kèo nướng, tác giả đã tự tay thực hiện buổi tiệc gỏi sam nướng:
Miệng nói, tay tôi vẫn trộn đều tô gỏi, những tép bưởi bị vỡ nước hòa lẫn với muối đường tạo một vị chua ngọt dễ chịu, mùi tỏi phi, mùi thơm của trứng sam nướng làm cho tôi bắt khịt mũi hoài, với ba cái dĩa bàn hình hột xoài, tôi sớt tô gỏi sang dĩa, dùng đũa muổng sửa lại cho khéo léo dễ coi, xong rắc rau thơm, phủ lên rau những sợi ớt đỏ au ngâm dấm cong queo lại được trang điểm sau cùng
(Quê hương nỗi nhớ)
Cá kèo trong mâm cơm gia đình còn có các món khác nữa như kho mắm, kho chỉ, chiên, nấu cháo. . . .và cá kèo theo mẹ đến trại cải tạo thăm nuôi Thy Lan Thảo:
Một gói khô cá kèo
Trong gói quà thăm nuôi
Con thấy bàn tay mẹ
Trở khô giữa nắng đời!
(Tình mẹ cho con)
Cứ ngỡ rằng chấm dứt chiến tranh mọi người sẽ trở về vị trí bình yên của mình trong gia đình và ở xã hội nào ngờ lại phải đem thân vào chốn lao tù trong các trại cải tạo.
“Nếu không có ngày của tháng Tư đen, tôi sẽ không bao giờ hiểu được sự thâm ác của người cộng sản.”. . .
“Mỹ Phước Tây trong lòng tôi vẫn là ... địa ngục trần gian bởi chế độ lao động quá nặng nề và cai tù đánh đập tù quá tàn nhẫn.”. . . .
(Mưa Đồng Tháp Mười)
Bao nhiêu đau buồn, bao nhiêu ray rứt khi con không về phụng dưỡng được cha mẹ già mà còn làm cho mẹ khổ thêm:
Mẹ ơi ! con nhớ ngày thơ bé
Con lớn trong vòng tay mẹ yêu
Suốt thời thơ ấu con bên mẹ
Mẹ khổ vì con cũng rất nhiều !!
(Con sẽ về với mẹ)
Ai gây nên những thảm cảnh này? Tình mẹ con lại là “Vết hằn kỷ niệm” đau đớn trong suốt cuộc đời này:
Ngày còn ở trại cải tạo Huyện Tây, mỗi nửa tháng được cho thăm nuôi một lần, tù bên trong nhìn rõ thân nhân từ ngoài đường di chuyển về hướng cổng trại. Ðã có lần máu tôi chợt nóng lên, mắt tôi như tóe lửa, khi nhìn thấy cảnh Mẹ tôi hai tay xách đầy hai giỏ nặng lầm lũi bước vào cổng trại bị một thằng võ trang dùng mũi súng gạt ngang làm Mẹ hoảng hốt chao người, mất thăng bằng suýt té, hai tay tôi đã nắm chặt lại trong niềm tức giận, Mẹ ơi! Con trai Mẹ hèn quá! Mẹ ơi! Hoàn cảnh nào đã biến con trai Mẹ thành thằng hèn. Mẹ ơi! chắc Mẹ vẫn biết thằng con trai út của Mẹ có một trí nhớ rất tốt, cả đời nó sẽ không bao giờ quên hình ảnh Mẹ mình lảo đảo trước sắt thép của kẻ thù
(Mưa Đồng Tháp Mười)
Nhiều năm sau, những địa ngục trần gian đó vẫn là nỗi thù hận, ám ảnh mọi người:
Nam Hà lam chướng ăn không đủ
Kiệt lực theo từng ngày tháng trôi
(Trại tù Nam Hà)
Sau hơn 8 năm bị đày ải trong địa ngục trần gian mà còn được mạng sống là điều may mắn nhất cho những người tù không bản án, là niềm vui lớn nhất của mẹ:
Con ra tù mẹ vui mừng lắm
Tám năm dài mẹ khóc mẹ thương
(Ấm cảnh nhớ tình)
“Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, hơn tám năm, bao nhiêu “thiên thu” đã mất đi, mất đi tài sức của thời trai trẻ, mất đi những tình cảm thiêng liêng không sao tìm lại được:
Em về, di ảnh ba yên đó
Tóc mẹ đầy sương, mắt thật buồn
(Cũng vẫn tâm lòng)
Được tự do, được trở về mái nhà xưa, được sống trong sự thương yêu đùm bọc của mẹ và chị, sung sướng nhưng cũng không ít xót xa cho thân phận “nam nhi” thất thế của mình:
Nuôi một thằng em sau cuộc chiến
Trở về tráng sĩ vóc xanh xao
Mâm cơm thường chỉ ăn rau luộc
Cà hấp dầm tương nuốt ngọt ngào…
(Ấm cảnh nhớ tình)
Chín năm sau cảnh gia đình đầm ấm xum họp ấy lại là cảnh chia ly, có nước mắt đau thương, có nụ cười gượng gạo, có cả nỗi nhớ thương dằng dặc suốt cuộc đời :
Mẹ cười mà rưng lệ
Tiễn thằng con mẹ đi
Níu tay ôm lấy cháu
Trời cắt ruột phân ly
(Hoa hồng trắng)
Ngày đi, bước tiễn em ôm chị
Nước mắt tuôn dòng khóc như mê
Cờ đỏ ngập trời cờ của quỷ
Em biết ra đi khó trở về…
(Tết này em vẫn)
Bên cạnh cuộc sống yên lành ở đây vẫn là một tâm trạng bất ổn:
Mẹ ơi con nhớ mà con khóc
Nắng trải đất người con ấm thân
Có chút tiền dư con gửi mẹ
Gọi là tính cách ý luôn gần
(Ấm cảnh nhớ tình)
Nhắc đến cha mẹ, đến gia đình ngày xưa là gợi đến nỗi đau đớn, uất hận lớn nhất đời. Còn nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau khi trong tù thì mất cha, lúc bươn chải nơi đất khách quê người thì mất mẹ:
Mất mẹ lòng con luôn ray rứt
Hiếu tình con lỗi đạo mẹ cha
(Thiêng liêng tình nhớ)
Cả hai lần đại tang đều vắng bóng đứa con trai út ngoan hiền mà mọi người rất thương yêu
Ngày trở về của những người xa quê hương thường là ngày Tết, về nhà để cùng với gia đình thắp nén nhang trên bàn thờ ông bà, cha mẹ, cùng vui đón mùa xuân đất trời rạng rỡ. Đau lòng cho những người vì hoàn cảnh phải đón xuân tha hương:
Năm nầy thêm một Tết xa quê
Lòng vẫn luôn mong muốn trở về
Chị hiểu cho em…đau xót lắm
Đời vẫn buồn thương nhớ não nề
(Tết này em vẫn)
Tết Việt ở đây không có nếp nhà xưa, không còn cha mẹ, không gặp anh chị, không được nghỉ Tết, Tết chỉ có trong lòng người, trong mỗi gia đình và trong nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương quay quắt của những người xa xứ.
Trong mái ấm hiện tại, vợ con không những gợi nên bao nhiêu kỷ niệm về mẹ và chị mà còn làm tác giả nhớ đến tuổi thơ của mình, tuổi thơ của cả dân tộc mình rồi chạnh lòng:
“Ngày qua tới đất hứa, con tôi đứa lớn 5 tuổi đứa nhỏ 10 tháng… Nhìn các thứ đồ chơi của các hội thiện nguyện mang tới cho… Tôi không khỏi không nhớ tới chiếc xe bằng họp cá mòi, tới em ve chai Nhị Thiên Đường hết dầu cắt giấy làm áo , tới hình tac dăng…mà thấy ngậm ngùi cho người dân nhược tiểu, sống và lớn lên trong cảnh khói đạn mịt trời...”
“Thế hệ sinh thập niên 40 có tội tình gì mà phải chịu quá nhiều truân chuyên… Tuổi thơ tôi mất tôi biết đòi ai đây?”
(Một thời tuổi thơ)
Một thế hệ lớn lên trong khói lửa không được quyền tự định đoạt tương lai mình. Thy Lan Thảo đã đại diện cho thế hệ ấy mời chúng ta xem một đoạn phim hồi tưởng từ thuở còn bé, đến lúc lớn lên đi học, thời chiến tranh đi lính, ngưng tiếng súng trở về quê đi tù và giờ đây lưu vong nơi đất khách quê người. Cuộc sống tự do, đầy đủ của ngày nay, đã được trả giá bằng những ngày bị giam cầm, lao khổ, nhục nhã. Họ đã được tự do gặp lại nhau, tự do nói, tự do bày tỏ cảm nghĩ của mình:
Gặp nhau niềm vui nào hơn
Năm xưa tay súng tay đờn bốn phương
Tóc anh trắng gió bụi đường
Mấy thằng em út dễ thương năm nào
Tay ôm, tay bắt, tay chào
Thâm tình chiến hữu ngọt ngào là đây
(Gặp lại đồng đội)
Bạn bè lưu lạc đời xa xứ
Rỗi rãnh cuối tuần thăm hỏi nhau
(Tâm lòng ao ước)
Rồi lại cùng ngậm ngùi tiếc cho những hoài bão thời trẻ trung của mình:
Đất người khanh tướng còn đâu nữa
Ứa tủi ngậm ngùi tiếc nắng xuân
Tháng tư gió ngược trời đen tối
Thương nắng xuân kia sớm tắt tàn...
(Chút tình chiến hữu)
Tuổi đời không còn trẻ, ước vọng ngày xuân cũng tàn phai, họ gặp nhau vì chung một tâm lòng cùng hoài vọng về quê hương, đất nước:
Mười mấy năm đất lạ gặp lại anh
Kỷ niệm nào hơn kỷ niệm lao lung
(Viết nhớ bạn tù)
Cùng nhớ lại những ngày ở địa ngục trần gian, cùng đau đớn xót thương cho những người bị kiệt sức chôn vùi xác thân trong các trại cải tạo:
Đất người ta nhớ Nam Hà lắm
Địa ngục trần gian có thật sao?
Giặc chiếm miền Nam từ đất Bắc
Toàn dân phải chịu cảnh ba đào...
(Trại tù Nam Hà)
Chuyện buồn vui làm sao kể xiết
Đất tạm dung lặng lẽ nỗi sầu
Nấm mồ hoang bạn bè đã chết
Ai đốt nhang cho bạn năm nào??!
(Bài thơ gởi anh)
Nhớ cả những người ra đi chưa hề đến được bến bờ tự do:
Ta được tin tàu chìm
Trước tin em ra đi
Cả bầu trời sẫm tím
Ta biết nói câu gì !?
(Giấc em – Sóng biển)
Và nhớ lại những cuộc tình không trọn vì cảnh tù đày:
Ta hiểu tình xưa như áng mây
Gió lên dù nhẹ vẫn lung lay
(Bến xưa hờ hững)
Thương sao một thế hệ phải gánh chịu quá nhiều nỗi oan khiên!
Cũng có những người may mắn vượt qua vòng khói lửa chiến tranh, sống sót qua cảnh khổ sai tàn nhẫn, đến miền đất hứa bồi hồi nhớ lại:
Qua rồi một thuở xa xôi
Bụi đường gió cuốn rã rời xác thân
Ở đây nắng ấm ân cần
Tan rồi bóng tối- đường dần phẳng phiu
Đất người bỗng nhớ trăm điều
Thuở mình mới gặp, tiếng yêu ngọt ngào
(Tình yêu)
Một chút gì tốt đẹp bù đắp cho những đau thương mất mát đã qua. Còn những sinh mạng, những cuộc đời, những tài sản phi vật thể đã mất đi lấy gì bù đắp được? Nhưng đáng quý nhất là trong hoàn cảnh nào Thy Lan Thảo vẫn không để mất niềm tin.
Những lúc ở địa ngục trần gian:
Hoang thú kiềm thân cảnh đọa đày
Vẫn tin hoa nở đẹp ngày mai
Em thơ chắc sẽ cười tươi lắm
Xuân muộn trong mơ sẽ có ngày ...
(Thay đổi)
Và khi “tha hương ngộ cố tri”:
Trời quang tạnh, lạnh buồn xa xứ
Đếm tuổi đời, đáo tuế hết trơn
Bao giờ về Gò Công gặp gỡ
Nắng đẹp, tình quê …xóa oán hờn.!
(Tâm lòng ao ước)
Nơi đây chỉ là đất tạm dung thôi, nơi để nuôi dưỡng giấc mơ trở về cố hương:
Sao vẫn hoài mơ tiếng vó câu
Áo chàng kỵ sĩ bến giang đầu
Tiến quân chặt đứt tung xiềng xích
Dựng lại cờ xưa ấm ngọt ngào…
(Lững thững lưng đồi)
Một hình ảnh đẹp như mơ mà mọi người cùng ao ước được nhìn thấy trên quê hương mình.
Cảm ơn Thy Lan Thảo - một chứng nhân lịch sử của thế hệ sinh trong thập niên 40 - đã sử dụng thơ văn để kể cho chúng ta biết một giai đoạn lịch sử hào hùng và bi tráng của dân tộc.
Ai trong chúng ta lại không có lần nhớ về quá khứ, không có những lần nhắc lại những kỉ niệm của thời đã qua. Có những kỉ niệm vui vẻ, ngọt ngào nhưng cũng không ít kỉ niệm khơi gợi lại những đau thương, đắng cay, đeo đẳng suốt đời. Năm tháng trôi qua, những vết thương trên thân thể đã lành lặn và để lại những vết sẹo xấu xí nhưng những vết thương lòng, những lời nói sỉ nhục, xúc phạm, thù hận vẫn còn mãi hành hạ nhức nhối tâm can chúng ta:
“Thiên trường địa cửu hữu thời tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ”
(Cổ thi – Trung Quốc)
Cảm nghĩ, xúc động là điều tự nhiên đến với mỗi con người nhưng với nghệ sĩ lại là nguồn cảm hứng sáng tác. Chúng ta không thể nào bảo nhà thơ hãy quên đi hay nhớ lại những kỷ niệm của mình. Thy Lan Thảo cứ tự nhiên nhớ lại những niềm vui nỗi buồn trong đời, tự nhiên sống theo nguyện vọng của anh. Chúng tôi mừng là sau bao nhiêu biến đổi thăng trầm của thế sự, anh vẫn là một Thy Lan Thảo của thuở nào. Mong rằng sau “Vết hằn kỷ niệm” sự nghiệp văn thơ của Thy Lan Thảo sẽ còn tiếp nối mãi mãi và hãy gởi gắm những cảm xúc chân thành đó vào lời văn, ý thơ. Chúng tôi sẽ hân hoan đón nhận tình cảm của người con xa xứ có tâm lòng luôn luôn hướng về quê hương Việt Nam.
Xin trân trọng mời quý vị bước vào “ Vết Hằn Kỷ Niệm” Tập thơ và bút ký của nhà thơ Thy Lan Thảo
Gò Công Tháng Mạnh Xuân 2009
HÀ THỊ Nguyệt Minh
_________________
Vietnam Library Network
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét