Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

GIẤC MƠ ĐẦU ĐỜI - Trần Thành Mỹ

GIẤC MƠ ĐẦU ĐỜI 

Con thứ trong gia đình giàu có, bản chất thông minh đĩnh ngộ, học giỏi từ hồi còn học Tiểu học trường tỉnh. Chẳng những thông thạo tiếng Pháp mà còn được cha dạy thêm chữ Nho và theo cha dự các buổi xướng họa của hội Tao đàn, từ nhỏ đả sính làm thơ, chơi vĩ cầm, đánh cờ tướng và phá thế cờ. 

Cao ráo to con, tiếng cười sang sảng, gương mặt phúc hậu vui tươi dễ gây cảm tình với mọi người. Lên Trung học ở trường Chasseloup Laubat, anh cũng học rất nổi tiếng, nhất là giọng đọc của anh, nên thường được chọn đọc diễn văn đại diện học sinh toàn trường. Đổ xong Tú tài 1 Pháp, anh được cha mẹ cho sang Pháp du học vì cha mẹ ngầm nhận thấy mầm mống chống đối trong anh.
Có lẽ vì ảnh hưởng của nền giáo dục dưới thời Pháp thuộc, tinh thần Cách mạng 1789, bài quốc ca La Marseillaise của Rouget de Lisle tiến về Paris, anh cảm nhận sự bất công trong xã hội thời bấy giờ. Văn học Pháp với những nhà văn làm say mê anh từ những câu chuyện thần thoại của Perrault đến những tiểu thuyết càng đọc càng say mê của Alphonse Daudet, Hector Malot, Anatole France. Làm sao quên được Les trois mousquetaires với tinh thần thượng võ của những ngự lâm pháo thủ, Le comte de Monte Cristo của Alexandre Dumas mà cả thế giới ca tụng. Một Victor Hugo với tuyệt tác Les Misérables, một nhà văn , nhà thơ sùng đạo khóc con chẳng hạn:
“Je viens à Vous Seigneur,
Père auquel il faut croire,
Je vous porte apaisé
Les morceaux de ce cœur
Que vous avez brisé
Tout plein de votre Gloire. »
(Tôi đến với Ngài, vị Chúa cha mà tôi hằng tin tưởng
Tôi mang đến Ngài những mảnh của trái tim mà Ngài đã đập tan
Tràn đầy Vinh quang của Ngài)
một nhà báo :
« Insensé qui crois que je ne suis pas toi. »
(Chỉ có anh điên rồ mới cho rằng tôi không phải là anh)
Những nhà văn có tư tưởng giáo dục, cách mạng như Descartes, Pascal, Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire mà thế giới ngày nay đều công nhận tôn vinh. Còn nói gì đến thi sĩ như Lamartine, Alfred de Musset, Alfred de Vigny, Baudelaire,…của bao trường phái lãng mạn, ấn tượng chẳng hạn ảnh hưởng không nhỏ toàn cầu.
Với khẩu hiệu « Liberté, Égalité, Fraternité » tuyệt vời như vậy, anh không hiểu tại sao dân tộc có một nền văn minh văn hóa cao hòa đồng bình đẳng như Pháp lại là một nuớc xâm lăng ! Nuớc ta có 4000 năm văn hiến, từng bị Tàu đô hộ trên 10 thế kỷ, đã dày công giành lại chủ quyền, thế mà lại rơi vào tay cũa một cường quốc từng truyền bá tư tưởng tự do, nhân quyền. Anh cảm thấy bất mãn nhất là khi còn học Tiểu học anh đã phải nghêu ngao :’Nos ancêtres sont des Gaulois’. Nhìn các ông Thanh Tra thời bấy giờ to lớn mũi cao mắt nâu, xanh, tóc vàng, lông dầy đặc cùng mình, mặt đỏ gay bụng phệ, anh liên tưởng đến các thùng tonneau đựng rượu hay chiếc trống chầu báo hiệu giờ vào lớp hay tan học mà phì cười.
Nhớ có lần trong lớp thầy đang giảng về nưóc Pháp và kết luận một cách tự hào :
« Các trò phải công nhận là người Pháp chúng tôi có truyền thống thẳng ngay thẳng thắn vì trong chữ France đã có chữ franc, trực tính không dối trá. Các trò may mắn được hưởng nền giáo dục của nước văn minh nầy phải một mực học hỏi bắt chước không được quay cóp ăn gian, ăn cắp như những dân nuớc nghèo đói kém mở mang ngu dốt nghe chưa ? ».Học sinh đều im lặng, đầu óc choáng váng manh nha bao nghĩ suy chống đối hận thù…
Có lần bất giác anh như quên mất mình đang ở đâu vụt buột miệng lẩm bẩm : Đúng là dóc tổ !
- Trò kia vừa nói gì đấy ? Đứng lên ngay giải thích rõ xem.
Thịnh đứng phắt dậy mặt nóng bừng, cố gắng bình tĩnh trả lời:
- Thưa thầy, em nói đúng vì chữ franc chẳng những có nghĩa như thầy vừa giảng mà còn là đồng tiền của nước Pháp nữa.
- Phải nhưng trò có thể nói rõ ý mình hơn không?
Thịnh cảm thấy tim mình như đập mạnh hơn, máu trong cơ thể bắt đầu sôi sụt, anh muốn trút cơn thịnh nộ uất ức u uẩn dồn nén bấy lâu nay trong lời phát biểu như “nước ông tự hào là văn minh đem ánh sáng tự do cho các nước nhỏ kém mở mang nhưng mục đích thật là vì đồng franc, nên tìm cách xâm lăng đô hộ nước tôi, rút rỉa tài nguyên đem về mẫu quốc. Tôi hiểu nghĩa chữ ấy rộng thêm theo cách định nghĩa của ông dạy chúng tôi thôi”. Nhưng, nhìn thấy chung quanh cặp mắt lo sợ, chịu khuất phục trá hình của các bạn mình, trong bầu không khí yên lặng khác thường, Thịnh đổi ý nghiêm trang thưa:
- Người Pháp có câu “ L’argent est un bon serviteur mais un mauvais maître »( Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt mà là một ông thầy xấu). Vì vậy biết quí và dùng đúng chỗ đồng tiền do chính mình lương thiện liêm chính làm ra. Hai nghĩa của chữ franc phản ảnh hợp lý dân Pháp vậy.
Cả lớp thở phào, riêng thầy gật gật đầu nhìn thẳng vào đôi mắt một mí của cậu học trò ‘annamite’ phân vân, nghĩ nhanh đến một dân tộc có bề dầy lịch sử thật hào hùng nầy từng đuổi đánh bao kẻ xâm lặng có tấm vóc lớn. Thế hệ trẻ nầy nếu được dạy dỗ theo tinh thần Cách mạng 1789 Pháp, biết đâu một ngày nào đó, Pháp sẽ mất Hòn ngọc Viễn Đông !
Thật ra, lối giáo dục từ chương nhồi sọ của Pháp ở nước ta chỉ nhằm mục đích huấn luyện đào tạo một số người phục vụ quyền lợi của họ là chính yếu. Do đó chương trình học, thi cử thời bấy giờ thật hạn chế khó khăn. Thí dụ thi lấy bằng Brevet d’études du Premier Cycle tương đương với Trung học đệ nhất cấp ngày nay,môn thi Văn là Chính tả, 5 lỗi là không điểm nếu không nhờ câu hỏi trả lời vớt vát thì kể như rớt khóa đó. Điều lệ cơ bản của trường thi là bất cứ một môn nào bị khoanh tròn zéro là « lúa » rồi dù tổng cộng các môn còn lại cao hơn điểm bắt buộc phải đạt để trúng tuyển. Thi Tú tài I, môn Văn cũng có điểm loại, phải qua « barrage » qui định, các môn khác mới được tính chung.
Dưới thời kỳ đô hộ, con em thuộc thành phần nghèo dù hiếu học thật khó có cơ hội tiến thân xa. Con nhà giàu ở miền Nam thường không cần có trình độ cao, chỉ cần học đến bậc Trung học hầu có thể giữ một chức vụ trong tĩnh làng xã như hương chức trong Ban Hội tề, cai tổng…hoặc sau nầy có thể mua quan tiến chức như huyện phủ hàm giữ quyền lợi tiếng tăm cho dòng họ.
May mắn cho gia đình phú hộ nào có kỷ cương nề nếp, đầu óc tiến bộ biết đầu tư vào việc giáo dục con cái như anh chẳng hạn được cha mẹ anh, ông bà Trần khuyến khích học cao lên. Vốn thông minh, thi đổ sau cuộc thi tuyển vào trường Trung học Chasseloup Laubat Saigon, học giỏi đổ Tú Tài 1 Pháp hạng Bình và được cha mẹ xin cho sang Pháp du học tự túc.
Sau khi đổ xong Tú tài toàn phần ban Toán, cha mẹ muốn anh theo ngành luật nhưng anh lại ngầm say mê hướng khác. Từ ngày còn lớp 12 của bậc Trung học, anh đã cùng các bạn Pháp cùng lớp, theo phong trào mới bấy giờ, nghiên cứu tìm tòi học hỏi về ngành hàng không, nhất là việc chế tạo phi cơ.
Đối với sinh viên bản xứ, mộng đó còn có cơ thực hiện được, chứ còn đối với dân thuộc địa, du học, không có quốc tịch Pháp dù học thật giỏi đi chăng nữa, cũng không được tuyển dụng vào vì có những ngành nghề thuộc quốc phòng dành riêng cho những người ưu tiên đặc cách. Chẳng hạn như nước ta, có thời kỳ, một số thương gia người Hoa bắt buộc phải nhập Việt tịch trở thành người Việt gốc Hoa mới được hành một số nghề cấm đoán cho những người Tàu khác hoặc sau 75 sinh viên thi tuyển vào các ngành bậc Đại học thường chỉ được chọn căn cứ theo lý lịch. Cuối cùng anh đành bỏ ý định trên và tiếp tục vào ngành Luật tuy vẫn âm thầm theo đuổi tiến triển ngành anh say mê.
Bấy giờ anh mới nhận ra rằng từ lý thuyết từ chương đến thực tế ứng dụng quả là một đoạn đường cam khổ gay go phức tạp vô cùng. Chẳng những bị thôi thúc bởi nỗi đam mê sáng tạo dày vò ăn ngủ không yên mà còn bị sức ép áp lực trong ngoài như chính trị, ngành nghề, gia đình, cạnh tranh ráo riết, có khi không chừa mưu mô tiểu xảo quỉ quyệt, mánh khoé gian manh nào.
Điều mà làm cho anh mở mắt thêm là con người thật cô đơn khi muốn đề bạt một vấn đề, khởi xướng một phong trào, thay đổi một chương trình,…Thật khó vứt bỏ cái nếp sống quen thuộc của người khác, tư tưởng đã hằn sâu từ bao thế hệ. Người ta có cảm giác như là tiếp nhận cái mới cái lạ là mình tự đào thải hạ thấp khả năng, phát giác sự thua kém khiếm khuyết bản thân, một mặc cảm tự ti gợi dậy sư ganh tị, chê khen thiển cận, bác bỏ. Lịch sử đã chứng minh bao thiên tài, nhà cách mạng mai một nghèo nàn bị hăm doạ mua chuộc, bắt bớ tù đày, lên án gắt gao như Galilée cho rằng trái đất tròn, Gandhi với thuyết bất bạo động, Mandela chống « apartheid », Luther King chống việc kỳ thị chủng tộc màu da ngày 28-08-1963 đã tuyên bố:
« I have a dream that my children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character”.
Ngay ở các nước văn minh cũng thế, ảnh hưởng chính trị, tôn giáo, văn hóa, truyền thống tập tục lắm lúc cũng khắc khe không kém. Thông thường vì quyền lợi cá nhân, cục bộ, đảng phái, dòng họ, giai cấp, vùng miền, định kiến con người xâu xé lẫn nhau hơn tự phê tự kiểm, học hỏi phấn đấu để vuơn lên. Ngay cả bao sáng kiến phát minh có tầm vóc lớn cũng được bảo vệ cẩn mật riêng thuộc quốc phòng, cấm không được phổ biến tự do lý do để không bị mua chuộc, bán tác quyền. Trường hợp hai nhà bác học Curie là ngoại lệ đã công khai phổ biến phát minh khoa học của mình.
Sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, tình hình du học của sinh viên Việt gặp nhiều trở ngại hơn. Việc gởi tiền chậm trễ, sinh viên không dễ tìm việc để tự túc sống. Đang gặp khó khăn như thế anh lại nhận thêm tin buồn là anh của anh đột ngột từ trần. Do đó, gia đình quyết định bắt anh trở về vì bây giờ chỉ còn anh để nối dỏi tông đường và cha mẹ cũng đã lớn tuổi rồi không thể quán xuyến hết huê lợi tài sản.
Đứng trước tình cảnh khó xử, một bên là bổn phận làm con, bên kia sự nghiệp tương lai lý tưởng của đời mình, anh cố xin cha mẹ cho anh cho anh ở nán vài năm để học cho xong cử nhân Luật. Nhưng dự tính anh lần nữa không thành vì mẹ anh bệnh nặng, anh phải lo liệu về gấp không thể chần chờ được lâu hơn. Đúng là “bởi số chạy đâu cho khỏi số” rồi. Than ôi, đó chỉ là giấc mộng thôi sao? Chuyến tàu đưa anh về quê hương giữa biển trời đại đương lồng lộng mà anh có cảm tưởng như mình bị kềm hãm mất tự do. Anh biết lần nầy về là khó có cơ trở lại để thực hiện giấc mơ đầu đời. Anh cảm thấy vừa thương cha mẹ vừa thương cho thân phận mình, dù anh biết rằng với số vốn kiến thức hiện giờ, anh cũng dư có cuộc sống nhàn hạ rồi chưa kể đến tài sản của cha mẹ để lại sau nầy anh có thể sống hưởng của trời cho cho đến suốt cuộc đời.
Hôm từ giả các bạn Pháp cùng xây mộng như anh, anh biết rằng từ đây trở đi lý tưởng sáng tạo phát minh phục vụ chân chính vẫn giống nhau nhưng mục đích chắc chắn là hoàn toàn khác hẳn. Anh sẽ trở về quê hương anh còn là một thuộc địa Pháp, một xứ Annam thuộc Đông dương Pháp (Indochine française) bị họ chia ra ba vùng để dễ trị, Bắc kỳ (Tonkin), Trung kỳ (Annam) dưới quyền bảo hộ, Nam kỳ (Cochinchine) thuộc địa theo Hiệp ước Harmand ngày 25-08-1883. Nhất định sẽ có một ngày dân tộc anh vùng lên giành lại độc lập tự do như trước kia cha ông ta đã bao lần chống xâm lăng giữ nước.
Nghĩ đến đây anh cảm thấy thương đất nước mình hơn nhỏ bé mà kiên cường không khuất phục. Giữ nước không phải chỉ do những người có học trí thức, ăn trên ngồi trước, du học sinh như lớp con người giàu có như anh. Áp lực của guồng máy chính trị thực dân cũng là một sợi giây “thòng lọng” không biết siết cổ mình lơi chặt lúc nào.
“On est grand parce que tu te tiens courbé,
Lève-toi, peuple » !
( Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống
Đồng bào ơi, hãy đứng lên )
Trong bài quốc ca « La Marseillaise », Rouget de Lisle cũng đã viết :
« Aux armes, mes citoyens… »
Thế là lời nói và việc làm thường vẫn không đi đôi nhau nhất là chiêu bài chính trị quyền lực. Dạy khuyên thì chẳng khó khăn gì, nói nghe trơn tru trót lọt, hào quang chiến thắng thường rực sáng trên ngọn bút đầu súng lưỡi gươm. Nhiều lý thuyết thật hay nhưng chỉ là ảo mộng, những viên thuốc độc bọc đường khó khám phá cưỡng chế được. Về vấn đề giai cấp, giới giàu sang vọng tộc cũng khó mà hiểu nổi nếp sống và lối suy nghĩ của lớp bình dân. Huống hồ giới tư bản, các nước văn minh tưởng mình là cái rốn của vũ trụ, tấm gương sáng của thế giới, luôn phe phẩy cái license môn bài phát minh tiến bộ ve vãn bức bách các nước còn kém mở mang chẳng những bằng kiến thức uyên bác thông thiên địa lý của mình mà còn bằng vũ khí tối tân hàng loạt, hậu quả đô hộ xâm lăng bằng « bàn tay bọc nhung ». Khôn ngoan hơn, chiêu bài của họ vẫn là văn hóa đi trước chiếm nước theo sau.
Tuy « Thấp cổ bé miệng », dù cái miệng trăm chuyện cũng từ đó mà ra, dân ta chẳng đã từng đánh lui Nguyên Mông bách chiến bách thắng, tháo xiềng xích của nghìn năm Tàu đô hộ, thế mà vẫn phải cúi đầu câm nín khuất phục bởi ánh sáng phù phép khoa học kỷ thuật phương Tây do những tên Bạch quỉ, Hồng mao đã làm cho đèn đốt ngược vẫn sáng, tàu thuyền không chèo mà lướt trên sóng nước nhả đạn bằng đại bác thần công.
Nghĩ đến chính sách xưa như bế quan tỏa cảng, cấm đạo, đánh giá sai về tiến bộ thời đại như chuyện tai nghe mắt thấy của các sứ giả, cụ Phan Thanh Giản chẳng hạn, là hoang đường khó tin, tất cả như còn quyện lấy hồn dân tộc, thật không dễ đập tan nhanh chóng vách ngăn giữa cái mới cũ, giữa hai thế hệ xưa nay.
Bao nhiêu người thiện chí dấn thân phất cao phong trào đổi mới được mấy ai thức thời hưởng ứng. Phe bảo thủ lại khó tin tưởng những con ông cháu cha du học về, theo các nhà thâm Nho, chỉ để vinh thân phì gia, tệ hơn là tay sai cho tư bản Pháp.. Ai cũng thích sống trong tháp ngà đi lộng che dù yên ổn ngại đổi mới nhất là với tầng lớp trí thức khoa bảng, sĩ phu, phú quí tồn cổ. Nền móng nhân nghĩa lễ trí tín, tam tòng tứ đức, quân sư phụ hằn sâu trong truyền thống tập tục đạo lý bao đời không dễ gì xóa bỏ đổi thay. Cái khó nữa là phải biết thanh lọc dở hay, không phải cái mới nào cũng tốt cái cũ đều quê mùa lạc hậu để mà « Gác tình duyên cũ thẳng đường trông »(Thế Lữ).
« Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây dụm lại nên hòn núi cao »
« Đi một đàng học một sàng khôn »
Dân ta đã chẳng bảo thế sao, anh tin rồi đây dân trí càng ngày càng cao, các nước nghèo ý thức dần quyền sống tự do độc lập của mình. Hy vọng !
Giữa biển trời bao la, những cơn sóng gió phong ba hỉ nộ ái ố bất thường làm cho anh nhận thức rằng chiếc tàu chẳng những rất cần đoàn người leo lái tài ba mà còn tinh thần phóng khoáng thực tế, biết đổi mới, thức thời, tiến bộ. Anh cố thử phác hoạ những nét chính chương trình tạo cuộc sống của mình khi về quê. Mộng phát minh chế tạo tiêu tan theo mây khói chắc chắn rồi, cơn mơ đầu đời cũng sẽ tàn theo nếu mẹ anh vĩnh viễn ra đi. Anh biết rằng anh không thể nào thuyết phục cha anh để thực hiện hoài bảo của mình dù cha anh không phải là người thủ cựu độc đoán.
Lần về nước nầy anh nhận thấy tình hình đất nước bề ngoài có vẻ đổi thay. Vậy dự tính của anh khó thể nào thực hiện được. Rồi cha anh có ý giục anh lập gia đình. Thật ra, việc nầy anh cũng có lần nghe phong phanh bàn đến, hai bên định ước miệng trước thôi, một công hai ba chuyện vừa tình bạn vừa xứng suôi gia, môn đăng hộ đối. Lúc đầu theo tư tưởng tự do, anh phản đối ngầm việc chỉ định nầy nhưng định bụng tùy cơ ứng biến thôi.

Một hôm đi dạo phố ở Saigon, tình cờ anh gặp lại anh bạn học cũ thời Trung học. Tay bắt mặt mừng họ định dẫn nhau vào quán giải khát hàn huyên thì anh bạn Chương mới chợt nhớ ra là mình đang có hẹn với hai em gái đang vào chợ Saigon :
- Xin lỗi « toa » nha. Gặp toa mừng quá quên khuấy mất hai em gái của « moa » ở dưới tỉnh nhà mới lên chơi nên moa mới đưa đi bát phố đó. Ngán theo các cô « du dương » không biết mệt đi mua sắm, mở « hồ bao » cho các cô chi tiêu bao nhiêu cũng được chẳng nệ hà gì, nhưng chưa có đủ kiên nhẫn để theo gót mấy cô em đâu.
- Chưa đến lúc đó thôi, biết đâu « rồi một ngày ai reo tim …toa » thì không đợi mời toa cũng tình nguyện làm « gạt đờ co » (garde-corps) , hộ vệ « ếch cọt » hết mình. Thôi mình đứng đây chờ cũng được mà.
- Thật ra thường thường mấy thằng bạn còn độc thân như tụi mình chưa có « đào » cũng hay ngồi ngoài hiên trên lề đường trước các quán tiệm giải khát để vừa « đấu láo » vừa rửa mắt nhìn người đẹp lượn qua, phê phán cũng vui.
- Hồi còn đi học đó, lo « gạo » trối chết đâu có thì giờ, bây giờ đi làm rồi cũng phải hưởng chút chớ.
- Kìa, các cô ấy đến rồi đó, cô em út mặt mày hớn hở là điềm lành rồi đó toa.
Vừa thấy anh, cô gái trẻ vừa cười vừa lên tiếng :
- Tụi em đúng hẹn ghê chưa. Hên quá, tụi nầy đi xem cả vòng chợ rồi, chị ba cũng có mua vài món hàng đẹp lắm, chỉ cứ do dự em phải dục chỉ mãi chỉ mới chịu mua.
- Xong rồi bây giờ về chưa hay còn muốn đi đâu nữa ?
- Anh cho về đi kẻo chú thím chờ cơm, cô chị trả lời.
- Mà khoan khoan, để anh chào bạn anh cái đã.
Quay lại kéo tay anh đến gần, anh bạn Chương giới thiệu đơn giản :
- Hai em gái của moa đó, đây là Nguyệt và đấy là Nga. Còn đây là anh Thịnh bạn anh.
Hai cô chỉ nghiêng nghiêng đầu nói « chào anh » và anh cũng cưòi cười đáp trả rồi chia tay, hai người bạn hẹn ngày gặp lại.Thịnh còn tần ngần đứng nhìn theo ba anh em băng qua đường, thình lình Nguyệt xoay lại, bốn mắt gặp nhau vội vã quay đi. Bất ngờ !

Hôm ấy trời nắng đẹp, ba anh bảo anh cùng đến thăm gia đình một người bạn đang làm việc ở tỉnh láng giềng. Anh không thích đi nhưng sợ ba buồn nên anh đi theo thôi vì thật ra anh có ý định muốn nhìn lại cô gái vừa thoáng gặp kia. Nhìn cha già đạo mạo trong bộ áo dài khăn đóng, hãnh diện vì cậu con trai hiếu thảo du học trở về không phải với hai bàn tay trắng hay bằng cấp « nhảy đầm », anh cảm thấy thương cha mà gắng gượng làm vui đi theo. Anh cũng chưa có dịp thưa lại với cha trường hợp « chớp nhoáng » trên, anh chờ cơ hội tìm hiểu thêm, anh đâu ngờ ba anh dường như đã tiên liệu hết rồi. Dù sao anh cũng không lo lắng lắm, ba anh không nỡ lòng nào « ép duyên » anh đâu.
Chiếc xe nhà traction hiệu Citroen đen bóng lộn do chú sáu tài xế đưa cha con đi, lâu lâu nhận kèn « tin tin » làm bao ngưòi dân tỉnh trầm trồ và nhất là trẻ con nhìn không đã mắt. Cái nền văn minh khoa học kỹ thuật mà họ nhỏ giọt phổ biến truyền bá chỉ một số người hưởng thụ được, còn đại đa số quần chúng nghèo thì chỉ ngóc đầu lên để nhìn xe xì khói. Anh chạnh nghĩ con nhà giàu sung sướng thật, không cần lo miếng ăn, sống dư thừa an nhàn hưởng thụ nhất là miền Nam được thiên nhiên ưu đải rất nhiều. Âu đó là điều kiện phát triển con người nhưng cũng làm chùng bước bó tay bao người muốn thực hiện hoài bão cao cả. Anh thở dài làm ba anh ngạc nhiên hỏi :
- Con làm sao vậy ? Con không thích đi à? Con có tâm sự riêng không ?
- Không có gì đâu ba. Con chưa có ý định lập gia đình ngay, con muốn xin ba cho con huởn huởn thư thả một thời gian, đi làm cho bỏ công học rồi sau đó tính cũng không muộn.
- Tùy ý con thôi. Ba cũng đã già rồi mà lúc nầy cũng thường hay bệnh hoạn quá. Bây giờ chỉ còn một mình con là trai nên ba phải chỉ cho con dần dần công việc quản lý tài sản, thay ba thờ cúng ông bà. Hôm nay thì con cứ đến thăm bác đốc phủ bạn ba, bác có chức phận nhưng nổi tiếng thanh liêm cuơng trực, người như vậy cũng không dễ gì tìm được thời nay đâu. Hai gia đình từ trước đến nay dù không thường xuyên thăm viếng nhau nhưng vẫn liên lạc qua hội thơ văn. Bác và ba có nhiều điểm hợp và giống nhau, cả hai đều góa và cố gắng sống liêm chính. Thôi vấn đề đó bàn sau, còn chuyện lập gia đình là hệ trọng cả đời, ba vẫn nhớ lời trăn trối của má con khi qua đời là luôn lo cho hạnh phúc các con trước tiên. Chị em gái con đã xong bề gia thất chỉ còn con thôi.
Nghe cha thố lộ, anh cảm thấy thương cha già hơn bao giờ hết, anh nghĩ mình phải làm gì để cha đừng buồn lo trong tuổi già cô đơn.
- Dạ ba nói đúng đấy, « mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên » phải không ba ? Biết đâu duyên trời định, ông Tơ bà Nguyệt xe duyên thì sao ?
- Anh Hòa rất có hiếu, chỉ mất rồi mà bao mai mối cũng không làm anh ấy đổi ý bước thêm bước nữa vì mẹ anh già nên anh sợ cảnh khó xử giữa nàng dâu mẹ chồng. Má anh còn khoẻ sáng suốt lo cho con cháu không phiền hà ai hết, bà còn là tấm gương cho cả nhà noi theo, quán xuyến tề gia. Trước kia, hồi chị còn sống bà tin thương con dâu cho đến đổi mà người ngoài tưởng là bà ngoại các cháu nữa là. Má con hồi xưa cứ khen nức khen nở gia đình nầy cả mấy đứa con nữa, con nhà quyền quí, học giỏi mà không kiêu căng, vô lễ.
- Chắc là sắp tới rồi, đây chắc không phải là nhà riêng của bác ấy.
- Ảnh có nhà thờ ông bà ở miền lục tỉnh Hậu giang, nhưng nay được bổ nhiệm ở quận này mai quận khác nên chỉ để đó cho người trông coi lâu lâu cả nhà về thăm hoặc trong những ngày giỗ Tết. Con gặp bác ấy một lần đi rồi con mới thấy còn có thể tin vào cuộc đời. Bác ấy không phải xuất thân từ gia đình giàu có lâu đời đâu, lại mồ côi sớm, nhưng vốn hiếu học nên được gia đình ông bạn thân của cha bác đùm bọc cho đi du học thành tài trở về. Ông bà Tín lại không có con trai nên tận tình giúp nuôi ăn học, rồi sau đó dẫn anh đi xem vợ cùng khắp mà anh thì lại thầm thương cô gái duy nhất của ông bà mà chẳng dám hở môi.
- Chuyện tình của bác ấy cũng éo le quá !
- Chỉ có mẹ anh là đoán lờ mờ mối tình câm nầy. Thương con một hôm bà sang tâm sự với bà Tín :
- Cám ơn anh chị vô cùng đã chăm nom cho thằng Hòa đến nơi đến chốn làm nở mặt mở mày gia đình ba nó nơi chín suối, lại còn không quản công lo cho nó trọn bề gia thất nữa. Anh chị cứ lo sợ không biết nó có lỡ thương cô đầm Pháp nào không mà đám nào nó cũng không chê không khen gì hết mà cứ không ưng không thuận. Là mẹ nó tôi cũng thấy áy náy vô cùng, tôi cũng bao lần gạn hỏi mà không thấy nó nói có ai hết. Tôi cũng muốn có cháu nối dòng nên cũng khuyên nó cố quyết định sớm chừng nào tốt chừng nấy mà nó cứ « xìu xìu ểnh ểnh » dạ dạ vâng vâng cho qua truông thôi.
- Thằng nầy cũng kỳ thiệt, thường thường có chuyện gì nó sợ chị lo nó cũng hay thủ thỉ với tôi mà lần nầy nó chẳng nói chẳng rằng gì hết. Nói gì nó cũng cười cười, có lần bực mình tôi bảo thẳng :
- Nè, bộ cậu thương ai rồi phải không mà vì sợ mẹ không bằng lòng nên cứ dùng dằng không dám nói. Thú thật đi bác nói hộ cho. Con trai gì đã « đi Tây đi u » rồi mà cứ phây phây sống độc thân như vầy mãi người ta tưởng nầy tưởng nọ đó, nghĩ rằng chắc cậu có bằng cấp giả, đồng tính luyến ái chẳng hạn hoặc nghiện ngập gì gì lung tung không biết. Ngạc nhiên là cậu ta chỉ nhìn tôi …lạ lắm, miệng định nói gì rồi thôi chỉ thưa « con sẽ nghe lời bác ».Thấy thương làm sao !
Chỉ vì muốn tìm vợ cho con trai thôi mà hai bà mẹ đều ứa nước mắt. Lo cho con hay cho chính mình ? Chuyện mẹ chồng nàng dâu đâu đâu cũng thế bàn mãi cũng như lạc vào mê cung, mỗi thời mỗi lối sống.
- Hôm nay tôi sang đây cũng để tâm tình vấn đề đó với chị. Nó cũng tịnh khẩu như bình, vui vẻ chứ không thấy buồn lo gì cả. Để ý thấy nó có diện hơn trước một chút, không thấy nó đi la cà chơi ở đâu hết, có việc cần mới đi, nghiêm chỉnh điều độ đi làm. Có điều là chúa nhật thì nó hay sang bên nhà anh chị cả ngày như anh chị biết đó.
Một hôm, dọn dẹp phòng làm việc của nó, tôi thấy nó hay vẽ ở trang đầu hay cuối tập sách hai mẫu tự H&C lồng vào nhau. Trên bàn viết tấm ảnh chụp gia đình anh chị với nó trong khung đẹp như từ trước đến giờ. Tên nó khởi đầu bằng mẫu tự H còn C thì tôi nghĩ mãi không ra mà làm sao hỏi nó được nên qua đây kể chị nghe. Chị nghĩ xem viết như vậy là chắc có gì sâu đậm chớ không phải sơ sơ đâu. Thế mà sao nó tuyệt đối nín thinh không hé môi rỉ hơi gì cả.
- Đúng rồi chị ơi, tôi cũng nghĩ như vậy. Mà ai mới được chứ, nó sợ gì mà không nói ra. Học cao, có nghề nghiệp đàng hoàng, bao nhiêu gia đình giàu có muốn gả con cho nó, sao mà kỳ lạ vậy không biết. Chị không hỏi thẳng thì hôm nào nó qua đây tôi sẽ lựa lời nói cho. Tội nghiệp thằng nhỏ, sao nó hiền lành khù khờ quá vậy hỏng biết.
Về nhà sau bao lần tỉ tê vặn hỏi, Hòa thú nhận với mẹ đả thương Chi từ lâu, cô con gái lớn của ông bà Tín, hiện đang đi dạy, nhỏ hơn anh bốn tuổi. Hồi còn nhỏ hai đứa có bao nhiêu kỷ niệm, lớn lên thân nhau hơn nhưng Hòa không dám bộc lộ tình cảm thật sự của mình vì tình yêu của anh nẩy nở tự nhiên không biết lúc nào. Hơn thế nữa gia đình Chi đã giúp đở Hòa một cách vô vụ lợi không có ý câu gả con gái mình làm Hòa không dám bày tỏ lòng mình.
Nhớ lúc đi du học, Hòa thường viết thư về, chính ông bà hoàn toàn tin tưởng ở anh, đã không ngần ngại cho phép Chi trao đổi thư từ với anh. Ngay cả mẹ anh cũng không do dự nhờ Chi chuyển lời thay bà. Chính những lá thư ngây thơ hồn nhiên ấy là những động lực tác động sâu đậm tâm hồn mồ côi cô đơn của anh vững bước vào tương lai.
- Mà Chi có biết con quí Chi không ? Chi theo con có thương con không? Bà Hợp, mẹ anh, bụng đánh lô tô, cố nén nhẹ nhàng hỏi.
- Cảm tình chắc chắn là có rồi. Con gái mà má, con đâu có sành đời mà hiểu nổi. Tây phương thì ào ạt, hoạch tẹt tấn công chớp nhoáng dễ dàng như trở bàn tay, do đó cũng khó hợp với mình. Ở xứ mình, phong tục tập quán xưa quá đổi cũng trở thành cố chấp, đố kỵ, lỗi thời. Con thì định bụng bây giờ mới về, chí thú làm ăn trước, rồi nhất định sẽ xin cưới Chi nếu má bằng lòng.
- Con tính chờ tới chừng nào con không nghe ông bà ta bảo sao:
“Cưới vợ là phải cưới liền tay,
Đừng để lâu ngày có kẻ…” phỏng tay trên.
Chừng đó có tiếc đến bạc đầu cũng không kịp. Mà con có biết là Chi nó có nhiều người “rắp ranh bắn sẻ” lắm không? À, mà cũng lạ, hai bác có lần than với má là “không biết con Chi nó còn muốn gì nữa, nhiều đám đầy đủ điều kiện mà nó cũng lắc đầu, kén quá, kén riết thành nhộng cho coi, tôi bảo với nó như vậy, nó chẳng giận gì hết mà cứ cười cười trả lời, “rồi cũng có ngày mà mẹ”. Biết đâu!
- Chi theo con còn ngây thơ hồn nhiên lắm dù rất có ý thức về việc chuẩn bị lập gia đình. Con một mà không ỷ lại, tự lập, ham học hỏi, siêng năng, nấu nướng ngon, tự may quần áo mặc,...
- Con theo dõi Chi kỹ như thế à. Nếu vậy hôm nào mẹ sang bên hai bác ấy mở lời ướm thử xem, được cũng tốt mà không được thì mình tìm đám khác, đâu đó phải phân minh trắng ra trắng đen ra đen, để trong bụng hoài mệt óc lắm.
- Thế mà “lù khù có ông cù độ mạng” hai bên vui lòng chấp thuận, ba anh kết thúc câu chuyện, ảnh chỉ sống hạnh phúc với ba con cho đến ngày chị đột ngột qua đời, bao nhiêu năm rồi anh vẫn “gà trống nuôi con” . A đã tới nơi rồi, chuẩn bị vào đi con.
Điều làm cho anh cảm động là chính đích thân bác Hòa đã ra tận cửa niềm nở đón tiếp, vui vẻ bắt tay ba anh và anh rồi bảo:
- Lâu quá mới gặp cháu, đi Tây rồi “đô” con như Tây. Nghe cháu về định đến thăm mà bận quá, xin lỗi ông bạn già nghe. May là có cháu đi theo nếu không chắc ba cháu cũng tìm thú điền viên ở nhà “cu ky” một mình hoặc đọc sách làm thơ xướng họa chứ ít chịu đi đâu xa hết. Không có khách sáo gì hết nha, người nhà không hà. Mời vào nhà luôn để các cháu chào bác và anh chứ.
Gương mặt người con trai hiện ra sau lưng bác Hòa, cả hai đều thảng thốt kêu lên:
- Ủa Thịnh!
- Chương!
Trống ngực Thịnh đập nhanh hơn, hai cậu trẻ siết tay nhau thật mạnh làm hai ông già quay mặt lại rồi cười cười nhìn nhau như ngụ ý:
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”!
Một lát sau Nguyệt và Nga mang trà nước và bánh trái lên chào mời khách. Ông Hòa theo thông lệ giới thiệu ba con, vừa xong là Chương thưa:
- Thịnh là bạn học 5 năm với con ở Chasseloup Laubat, thời đó chúng con thân nhau lắm. Sau Bac I (Tú Tài phần I), Thịnh đi Pháp, từ đấy mất liên lạc luôn. Nhưng chúng con tình cờ vừa mới gặp lại nhau ở Saigon có cả Nguyệt Nga nữa.
- Vậy là điều đáng mừng phải không anh? Thôi thế nầy nha. Lát nữa còn có vài bác đến chung vui, các bạn già có nhiều vấn đề bàn bạc ít liên quan đến các con, các con tự do hoạch định chương trình đi viếng danh lam thắng cảnh, làm gì tùy thích, được chứ anh?
Nguyệt hôm nay khác hẳn hôm anh gặp lần đầu, càng nhìn anh càng thấy nao nao nhớ mẹ anh hơn. Nụ cười thật tươi, duyên dáng không lố lăng, nhanh nhẹn nhưng không hấp tấp, biết nói và biết lắng nghe, tia nhìn ngay thật dịu hiền, anh thấy mới quen mà sao như…từ tiền kiếp.
Trước khi đến đây dự định của anh vẫn là kéo dài thời gian độc thân càng lâu càng tốt hy vọng gặp người cùng hoài bão với mình hầu có thể chia xẻ giấc mơ đầu đời không bao giờ thực hiện được nữa. Còn trẻ mà, hạnh phúc lứa đôi đâu dễ tìm nên tìm làm chi cho sớm, nếu gặp người không hợp càng ê chề hơn.
Thế mà, gặp Nguyệt lần nầy anh đổi 180° ngay. Anh như bị cuốn hút bởi nét quyến rũ vừa hồn nhiên vừa chững chạc, phong thái cương nhu dịu dàng mà nghiêm chỉnh cương trực ảnh hưởng của cha và hoản cảnh mồ côi mẹ như anh. Anh quyết định tìm hiểu Nguyệt ngay hôm nay nhất là ý thức về cuộc sống và quan niệm hôn nhân nên từ chối khéo không cùng Chương đi vòng vòng tham quan thành phố. Anh cũng muốn xem Nguyệt có cảm tình với mình hay không nữa. Anh bác bỏ quan niệm xưa “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, người con gái không được tỏ bày tình cảm của mình.
Sau chuyến viếng thăm vừa qua, chính anh không chờ đợi ba anh hỏi ý kiến đã thành thật thưa với ba anh xin cầu hôn Nguyệt. Anh tin rằng cha anh sẽ vui mừng biết mấy và mẹ anh nơi chín suối chắc cũng hài lòng có đứa con hiếu thuận.
Đám cưới thắt chặt tình thân hai gia đình đã được dâu hiền rể thảo. Anh chị sống thật hạnh phúc bên nhau, sanh con năm một. Nhiều khi nhớ lại giấc mơ đầu đời, anh vẫn còn tiếc rẻ nhưng nghĩ lại anh thấy mình có phúc vì nếu anh ở lại biết đâu đã lập gia đình với một cô đầm nào rồi biệt xứ luôn. Hoặc giả kém may mắn hơn, đã bị thủ tiêu tù đày hay kiệt sức qua đời rồi, ai đoán được?
Thế rồi sau khi đứa con thứ ba vừa bốn tuổi, chị ngã bệnh và qua đời. Anh đau khổ vô cùng, anh quả là người bất hạnh đã không thực hiện được hoài bão của mình rồi bây giờ hạnh phúc cũng vượt khỏi tầm tay bất lực của anh. Nhưng anh phải cố sống vì cha anh, các con còn nhỏ của anh nhớ lại lời trối trăn và xin lỗi của chị suốt thời gian trị liệu, “anh phải sống vì ba, vì con”.
Có lần chị còn nói đùa:
“Anh đừng lo em ghen cho đến nổi mà chết rồi vẫn còn hiện về đánh ghen. Nếu tin là có thế giới bên kia, em sẽ về phò hộ cho cô nào yêu anh và thương ba đứa con chúng mình. Đâu phải bà mẹ kế nào cũng “mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng”
Anh có nhớ chuyện Thầy Mẫn tử Khiên mẹ mất sớm “chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn”. Cho tới khi cha biết được định đuổi bà kế mẫu đi thì Thầy Mẫn Tử
“Sa nước mắt chân quỳ miệng gửi,
Lạy cha xin xét lại nguồn cơn.
Mẹ còn chịu một thân đơn,
Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba.
Cha nghe nói cũng sa giọt tủi,
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa”
làm anh không ngăn được nước mắt. Càng nhớ đến chị bao nhiêu anh càng thấy trách nhiệm và bổn phận của mình nặng oằn mà từ đây chẵng còn có ai sẻ chia.
Vài năm sau ba anh lại qua đời, bấy giờ tình hình miền Nam lại bắt đầu sôi động, anh bèn đem ba con lên Saigon sinh sống. Rồi quân đội Nhật chiếm đóng miền Nam đến khi Sai gon bị dội bom, gia đình anh phải về quê tạm lánh nạn và khi quân đội viễn chinh Pháp trở lại miền Nam thì việc đi lùng bố thật tàn ác gắt gao. Anh bị họ bắt may nhờ biết tiếng Pháp nên sau vài ngày điều tra anh được thả ra từ đấy anh mướn người quản lý giữ nhà trông coi ít khi trở lại nữa.
Góa vợ trên 10 năm anh vẫn không có ý định tái giá mặc dầu bao mai mối. Anh cũng không tham gia chính trị vì với trình độ học thức của anh, nhiều ông hội đồng quản hạt, huyện phủ hàm thích có người cộng tác đắc lực. Anh không thích chế độ thân Pháp nên không chịu ra làm công chức có ngạch trật đàng hoàng mà chỉ làm làm công việc lương khoán thích làm thì làm không thích xin thôi .
Thời gian qua, mộng đẹp thời trẻ anh vẫn không quên. Anh nhận giúp nuôi một đứa cháu sang Pháp du học ngành kỷ sư. Rồi mộng anh cũng tàn theo vì cháu anh sau khi thành tài, lập gia đình rồi đi luôn không bao giờ về nữa. Chỉ có một đứa con anh nhập ngũ vào ngành hàng không học ở Pháp rồi sang Marakech (Maroc) ra trường đổ đầu làm anh an ủi được phần nào như thoát được cơn mơ ám ảnh suốt mấy mươi năm trường..
Cho đến cuối cuộc đời, mỗi lần nhìn phi cơ bay lượn trên nền trời cao qua cặp kính lão, hay vượt tường âm thanh, giữa đống sách cũ mới bề bộn, dù bao kỷ niệm xưa bị xóa dần trong ký ức, anh vẫn nhận ra ngay từng loại phi cơ từ chiếc đầm già, thám thính, săn giặc vận tải, chuyên chở hàng hoá hành khách, đến trực thăng, B52,…bằng cái nhìn cảm quan của thời niên thiếu.
Mái tóc đã bạc phơ theo tình hình đất nuớc, những người thân yêu nhất của anh lần lượt vĩnh viễn ra đi trong đó có cả con của anh vì chiến cuộc như giấc mơ đầu đời vượt khỏi tầm tay anh, anh vẫn tin rằng hoài bão của mình càng ngày càng được phát huy trên quả đất màu xanh nầy, những chiếc phi cơ bay vút trên nền trời xanh không giới tuyến như những tư tưởng phóng khoáng trong một thế giới hòa bình tự do bình đẳng đoàn kết biết sống có tình người.

Trần Thành Mỹ.
_________________
Vietnam Library Network
http://www.vietnamlibrary.net

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét